xã hội tri thức
Một xã hội tri thức được gọi là bền vững khi nó bảo tồn và thúc đẩy các quyền con người và quyền công dân; khi việc truy cập tri thức không bị cản trở và có khả năng bao quát rộng lớn; khi tri thức của nó làm thành cơ sở cho những phương tiện bảo tồn một cách
Nhưng do vai trò đặc biệt của mình, người trí thức cần rất tỉnh táo và thận trọng khi phản biện xã hội. Có những vấn đề chính trị và xã hội đơn giản và đã rõ ràng, bạn có thể nhanh chóng phát biểu quan điểm. Nhưng có lắm vấn đề bạn nhất thiết phải dành ra
Giáo án Lịch sử 6 - sách Kết nối tri thức với cuộc sống bài 5: Xã hội nguyên thủy. Giáo án được soạn chi tiết, phân bổ các tiết rõ ràng, liền mạch, nội dung đầy đủ chuẩn theo công văn 5512 của Bộ giáo dục và đào tạo. Thầy cô giáo có thể tham khảo. Hi vọng, mẫu giáo án này mang đến sự hữu ích trong
Vay Tiền Home Credit Online Có An Toàn Không.
Nội dung Text Thuyết trình Tâm lý học xã hội Tri giác xã hội Tâm lý học xã hội Psychologie sociale Tri giác xã hội Giáo viên hướng dẫn TS. Trần Thu Hương Nhóm làm bài tập Nhóm 10 Các thành viên Mai Linh nhóm trưởng Nguyễn Công Huân Trịnh Văn Tịnh Nguyễn Duy Hiệp Nguyễn Trung Thành Tri giác là gì? Tri giác là một quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người. Khác với cảm giác, tri giác là một mức độ mới của nhận thức cảm tính, nó không phải là tổng thể các thuộc tính riêng lẻ, mà là một sự phản ánh sự vật, hiện tượng nói chung trong tổng hoà các thuộc tính của nó. Những đặc điểm của tri giác Nhận thức cao hơn cảm giác Một quá trình tâm lý giống cảm giác. Phản ánh trực tiếp nhưng trọn vẹn sự vật dựa trên cơ sở hiểu biết kinh nghiệm. Phản ánh cấu trúc nhất định của sự vật qua cảm giác trừu tượng. Quá trình tích cực gắn với hoạt động của con người. Những quy luật chính của tri giác Tính đối tượng. Tính lựa chọn Tính ý nghĩa tri giác có ý thức bằng cách gọi tên sự vật. Tính ổn định. Tính tổng giác. Ảo giác Các loại tri giác Tri giác không gian Hình dạng, độ lớn, vị trí chiều sâu, độ xa, phương hướng…. Tri giác thời gian Độ dài, tốc độ, liên tục…. Tri giác vận động Biến đổi sự vật trong không gian. Tri giác con người Sự phản ánh tâm lý, từ cảm giác đến tư duy. Tri giác xã hội là gì? Là sự cảm nhận, hiểu biết về các đối tượng xã hội như bản thân, người khác, nhóm xã hội, cộng đồng. Sự nhận biết này phụ thuộc vào đối tượng tri giác, kinh nghiệm, mục đích nguyện vọng của chủ thể tri giác hay hoàn cảnh tri giác. Đối tượng tri giác là một thực thể xã hội tích cực mang sắc thái tình cảm và thái độ riêng của mình. Tóm lại Là thông qua các biểu hiện hành vi bên ngoài kết hợp với các đặc tính bên trong của sự vật để hiểu được mục đích hay phương hướng hành động của họ. Là quá trình nhận thức được đối tượng giao tiếp bằng con đường cảm tính chủ quan, theo kinh nghiệm. Những cơ chế chi phối Ấn tượng ban đầu. Quy luật quy gán xã hội. Định kiến xã hội. Ấn tượng ban đầu Sau lần tiếp xúc ban đầu ta sẽ có ấn tượng nhất định về đối tượng của mình Ấn tượng ban đầu hình thành ngay cả khi không chịu sự chi phối của lý trí. Là hình ảnh tổng thể trên cơ sở nhìn nhận một cách toàn diện diện mạo, lời nói, cử chỉ, tác phong, ánh mắt. nụ cười...... Thí nghiệm của Ash Solomon-1946 Thông minh Thông minh Khéo léo Khéo léo Cần cù Cần cù Nồng nhiệt Lạnh lùng Kiên quyết Kiên quyết Thực tế Thực tế Thận trọng Thận trọng - - Người tin tưởng vào những điều Một kẻ đua đòi thấy mình đúng đắn, muốn mọi người thành công, thông minh hiểu quan điểm của mình, chân khác người. Một kẻ tính thành khi tranh luận và mong ý toán, lãnh cảm. kiến đó được thừa nhận Cơ sở hình thành ấn tượng ban đầu 1. Theo các đặc điểm trung tâm. 2. Lý thuyết sơ đồ nhân cách ngầm ẩn. 3. Các hiệu ứng chi phối ấn tượng về người khác. Các đặc điểm trung tâm Những đặc tính nhân cách nào đó có ý nghĩa nhất quyết định ấn tượng của ta về người khác. Trong đời sống hàng ngày, khi nhận định lần đầu về người khác ta có thói quen chỉ căn cứ vào một vài nét tính cách nổi bật của người đó thôi. Lý thuyết sơ đồ nhân cách ngầm ẩn Khi nhìn nhận người khác mỗi người chúng ta đều mang trong đầu sơ đồ liên hệ tính cách người đó. Mối liên hệ này khi gặp người khác sẽ được hoạt hoá. Phụ thuộc vào kinh nghiệm sống của cá nhân. Các hiệu ứng chi phối ấn tượng về người khác Mô hình chỉnh lý thông tin Anderson Đtb = điểm đặc tính tốt – điểm đặc tính xấu / tính cách. Tâm thế của chủ thể là sự định hướng sẵn của chủ thể về đối tượng, sự vật, sự việc, sự kiện. Tâm thế sẵn có với ai đó thương chi phối ấn tượng của chúng ta về người đó. Hiệu ứng ban đầu Những thông tin đầu tiên đóng vai trò quan trọng hơn các thông tin tiếp theo. Hiệu ứng ban đầu Thông minh Ghen tỵ Chăm chỉ Ương ngạnh Bốc đồng Hay phê phán Hay phê phán Bốc đồng Ương ngạnh Chăm chỉ Ghen tỵ Thông minh - - Một người có năng lực và Thiên về ác cảm bi bị những biện hộ cho tính ương đặc tính tiêu cực trước ngạnh của mình vì người che lấp đi. đó biết mình làm gì và tin rằng điều đó đúng. Quy luật quy gán xã hội Là cách mà con người thường dùng để nhận định người khác. Quy gán thường mang tính chủ quan nên khó tránh khỏi sai sót. Để tránh những sai sót đó cần nắm vững nguyên tắc quy gán. Các nguyên tắc quy gán Tâm lý ngây thơ Chúng ta luôn có tâm lý muốn kiểm soát được những thay đổi, biến động của môi trường xung quanh. Suy diễn tương ứng Con người thường suy diễn tương ứng với những gì họ thấy. Suy diễn đồng biến Là suy diễn cho nguyên nhân kết quả đi kèm với nhau, nhân nào - quả ấy. Định kiến xã hội Thái độ thường mang hàm ý xấu về đối tượng, sự vật, hiện tượng. Hình thành trong quá trình xã hội hoá do sự giáo dục của từng gia đình hay do đặc thù của mỗi dân tộc. Thường ngăn cản chúng ta hiểu biết chính xác về đối tượng.
Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ Nội dung Text Tìm hiểu về xã hội tri thức Phần 1 NGUYỄN VẢN DÂN Diện mạo và triển vọng CỦẤ XÃ HỘI TRI THỨC NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUốC GIA - sự THẬT Hà Nội - 2015 LỜI NHÀ XUẤT BẢN Khoảng vài thập niên gần đây, những tác động mạnh mẽ của các tiến bộ khoa học, công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông đã làm cho thế giới chuyển biến tói một xã hội và nền kinh tế mà ở đó thông tin và tri thức được xem là nguồn lực chủ yếu. Điều này tác động mạnh mẽ đến tất cả các nước, nhất là các nưốc đang phát triển. Chúng ta ngày càng nhận thấy rằng xã hội tri thức có một tầm ý nghĩa rất quan trọng đôl với sự phát triển của loài người, nhưng để tiến tới xây dựng một xã hội tri thức, loài người đang phải vượt qua nhiều thách thức và trở ngại, trong đó có sự cách biệt sô", tình trạng bất bình đẳng trong việc tiếp cận giáo dục, sự mâu thuẫn giữa quyền sở hữu trí tuệ vối quyền được chia sẻ tri thức của mọi người dân,... Vối mong muôn giúp bạn đọc cũng như các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn thế nào là một xã hội tri thức theo quan niệm mối nhất của quốc tế và làm thế nào để có thể xây dựng được một xã hội tri thức bền vững, Nhà xuất bản Chính trị quôc gia - Sự thật xuất bản cuôn sách D iện m ạ o và triển v ọ n g củ a xã h ộ i tri th ứ c của Nguyễn Văn Dân cuô'n sách đã được xuất bản lần đầu tại Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2008. Cuồn sách sẽ là tài liệu tham khảo rất có giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu về xã hội tri thức - một lĩnh vực đang từng bước khẳng định vai trò và vị trí trong đòi sông hiện đại ngày nay. Nội dung cuô'n sách hệ thông hóa lại các quan điểm về đặc trưng của xã hội tri thức, làm rõ bản chất và phân tích vai trò của xã hội tri thức đôì với sự phát triển bền vững, qua đó trình bày một số suy nghĩ về con đường phát triển xã hội tri thức ở Việt Nam. Những vấn để do tác giả luận giải khá rộng và vẫn còn có những ý kiến đánh giá khác nhau trong giối nghiên cứu trong và ngoài nước. Đổ bạn đọc thuận tiện khi nghiên cứu, tham khảo, chúng tôi cô" gắng giữ nguyên chính kiến và các luận chứng của tác giả và coi đây là quan điểm riêng. Rất mong bạn đọc góp ý kiến để lần xuất bản sau nội dung cuô"n sách hoàn thiện hớn. Tháng 3 năm 2015 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - sự THẬT Mở đầu XÃ HỘI THÔNG TIN HAY XÃ HỘI TRI THỨC? Ngày nay, trên sách báo trong và ngoài nước đang xuất hiện hai khái niệm khi thì đưỢc dùng để chỉ một kiểu xã hội hiện đại, khi thì được dùng để chỉ hai giai đoạn phát triển của nó; “xã hội thông tin” và “xã hội tri thức”. Thực tế, hai khái niệm này đang được hiểu và cần phải được hiểu như thế nào? Đây là hai khái niệm xuâ't hiện từ khoảng thập niên 1960, khi công nghệ thông tin đã làm một cuộc cách mạng để tạo ra một kiểu xã hội mới, xã hội hậu công nghiệp. Từ đó người ta bắt đầu nói đến một thời đại thông tin. Bên cạnh hai thuật ngữ “xã hội thông tin” và “xã hội tri thức”, người ta còn nói đến “xã hội số” hay “xã hội kỹ thuật số”i “xã hội mạng”, “xã hội học tập” hay “xã hội học hành”, có người còn dịch là “xã hội học hỏi”, “xã hội dựa trên tri thức”... Nhìn chung, các thuật ngữ này đều xoay quanh hai đặc trưng chủ chốt là “thông tin” và “tri thức”. Sự thực là thuật ngữ “xã hội tri thức” xuất hiện sau thuật ngữ “xã hội thông tin” và “xã hội học tập” tiếng Anh “knọwledge society”, “information society”, “learning society”. Theo nhiều nguồn tài liệu thì người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “xã hội tri thức” là nhà khoa học người Mỹ Peter Drucker trong công trình Thời đại gián đoạn. Dường hướng cho xã hội đang thay đổi của chúng ta The Age o f Discontinuity. Guidelines to our Changing Society, xuất bản tại New York Harper & Row năm 1969. Từ đó, xã hội tri thức tiếp tục được bàn luận song song với xã hội thông tin và xã hội học tập, và đến thập niên 1990 thì nó được khẳng định. Đặc biệt là sang đến đầu thế kỷ XXI, vấn đề về xã hội tri thức đã thu hút được sự hỢp tác nghiên cứu của các nhà khoa học và sự quan tâm của các tô chức quốc tế, đặc biệt là các tổ chức của Liên hỢp quốc. Từ ngày 10 đến ngày 12-12-2003, theo kế hoạch của Đại hội đồng Liên hỢp quốc, Liên hiệp Viễn thông Quốc tế của Liên hỢp quốc ITU đã tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh thế giới vể Xã hội Thông tin giai đoạn I tại Giơnevơ, Thuỵ Sĩ. Và để phục vụ cho công tác trù bị của Hội nghị này, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hỢp quốc UNESCO đã cho công bố hai văn kiện quan trọng - Thông cáo của Hội nghị bàn tròn cấp bộ trưởng “Hướng tối các xã hội tri thức” “Tovvards Knowledge Societies”, và - Bản báo cáo Từ xã hội thông tin đến xã hội tri thức From the Inỉorm ation Society to KnowIedge Societies. Trong bản thông cáo “Hướng tối các xã hội tri thức” của Hội nghị bàn tròn cấp bộ trưởng của Đại hội UNESCO, UNESCO đã nhấn mạnh “...việc sử dụng các công nghệ thông tin - truyền thông để xây dựng xã hội tri thức cần phải hướng tối sự phát triển con người dựa trên các quyền con người”*. Rồi từ ngày 16 đến ngày 18-11-2005, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Xã hội Thông tin giai đoạn II đưỢc tổ chức tại Tuynít, thủ đô của Tuynidi. Tại Hội nghị lần này, cộng đồng quốc tế đã nỗ lực muốn đạt được một quan điểm chung về một bộ khung thích hỢp cho một xã hội dành cho tất cả mọi người. Nhân dịp này, các học giả Đức đã nhân danh xã hội công dân Đức soạn thảo một bản Hiến chương vê quyền công dân vì m ột xã hội tri thức bền vững trình lên Hội nghị, trong đó các nhà khoa học Đức nhấn mạnh “Một xã hội trong đó chế độ sở hữu trí tuệ đang biến tri thức thành một nguồn tài nguyên khan hiếm thì không phải là một xã hội bển vững”^. Như vậy, ngay khi diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh Thế giối về Xã hội Thông tin, thì các nhà khoa học đã khuyến cáo rằng, để khắc phục những nhược điểm của xã hội thông tin, chúng ta phải chuyển sang xã hội tri thức, và ngay bây giò, loài người phải chú trọng đến việc xây dựng xã hội tri thức, nền tảng của xã hội bền vững. Và cũng ngay trong năm 2005, UNESCO đã xuất bản một Báo cáo Thế giối mang tên Hướng tới cấc xã hội tri thức, dài 226 trang, trong đó các tác giả nhấn mạnh yêu cầu phải chuyển từ xã hội thông tin sang xã hội tri thức, với một nguyên tắc 1. Trích theo UNESCO; Towards Knowledge Societies UNESCO World Report 2005 “Hướng tối các xã hội tri thức- Báo cáo thê giới của UNESCO 2005”, UNESCO Publishing, Paris, 2005, p. 28. 2. Charter of civil rigbts for a sustainable knovỉỉedge society A contribution of German civil society for the world summit on the iníormation society Geneva 2003 - 'hinis 2005, cơ bản là tri thức cần p h ải được chia sẻ cho mọi người dẫn trên t h ế giới. Theo UNESCO, xã hội tri thức có một tính ưu việt so vối xã hội thông tin là Trong khi xã hội thông tin vẫn dựa trên nguyên tắc trao đổi mua bán của nền kinh tê thị trường thông tin đưỢc coi là hàng hoá; thì xã hội tri thức dựa trên một nguyên tắc đạo đức học mới mang tính dân chủ, dân quyền và nhân quyền tri thức cần phải được coi là tài sản chung của nhân loại, mọi người dân đều có quyền được tiếp cận. Điều này sẽ biến xã hội tri thức thành phương tiện để loài người xây dựng một xã hội bển vững và phát triển con người bền vững. Đây là xu hướng phù hỢp với trào lưu chung hiện nay của toàn cầu hoá trào lưu hướng tới dân chủ, dần quyền và nhân quyền. Đe tiến tới xây dựng một xã hội tri thức, loài người đang phải vượt qua rất nhiều thách thức và trở ngại đó là sự cách biệt sô", là tình trạng bất bình đẳng trong việc tiếp cận giáo dục, dẫn đến tình trạng cách biệt và loại trừ về mặt tri thức giữa miền Bắc và miền Nam, giữa các nước phát triển với các nưốc đang phát triển và trong lòng mỗi một xã hội. Xã hội tri thức cũng sẽ phải giải quyết vấn đề về sự mâu thuẫn giữa quyền sở hữu trí tuệ - một quyển lợi trọng tâm của xã hội thông tin - với quyền được chia sẻ tri thức của mọi người dân. Chúng ta tưởng rằng với quá trình toàn cầu hoá, cùng với các thể chế mang tính áp đặt phổ biến của nó như Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, quyền sở hữu trí tuệ sẽ ngày càng trở thành tiêu chuẩn đôl xử giữa các xã hội. Thế nhưng cùng với sự xuất hiện của xã hội tri thức, quyền sở hữu trí tuệ sẽ được nhìn nhận dưói một ánh sáng 10 khác mà dựa vào đó loài người sẽ phải giải quyết vấn đề này theo một hướng phát triển bền vững hơn. Rõ ràng, xã hội tri thức đang mở ra cho chúng ta những đường hướng mối chưa từng có cho sự p h át triển con người theo quan điểm nhân đạo. * Trong những năm gần đây, Việt Nam cũng đã nói nhiều đến chủ đề xã hội thông tin, nhưng chủ đề xã hội tri thức được đề cập rất ít. Có một sô" bài tạp chí lẻ tẻ đã để cập đến xã hội tri thức, nhưng chưa có cuô"n sách nào bàn chuyên về xã hội tri thức. Mặt khác, các tác giả trong nước chủ yếu vẫn nhìn xã hội tri thức từ góc độ kinh tế. Trong gần 10 năm trở lại đây, một loạt cuôh sách viết về kinh tế tri thức và xã hội thông tin đã đưỢc công bố. Chúng tôi xin đơn cử một số cuô"n sách như; Nền kinh t ế tri thức Nhận thức và hành động. Kinh nghiệm của các nước p h át triển và đang phát triển, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2000, 216 trang; Kinh t ế tri thúc - vấn đ ề và giải pháp Kinh nghiệm của các nước đang p h á t triển Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Nhà xuất bản Thông kê, Hà Nội, 2001, 239 trang; Kinh t ế tri thức - Những k h á i niệm và vấn đ ề cơ bản Đặng Mộng Lân, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 2001, 142 trang; Kinh t ế tri thức - xu t h ế mới của xã hội t h ế k ỷ XXI Sách tham khảo, Ngô Quý Tùng, Nhà xuất bản Chính trị quốíc gia, Hà Nội, 2000, 400 trang; P hát triển kinh t ế tri thức Rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đặng Hữu Chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 11 2001, 387 trang; Quản lý công nghệ trong nền kinh tê tri thức Đặng Nguyên, Thu Hà, Nhà xuất bản Hà Nội, Hà Nội, 2002, 318 trang; Nhà nước với p h á t triển kinh t ế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hoá Nguyễn Thị Luyến Chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005, 329 trang; Ai sở hữu kinh t ế tri thức? Tiếng nói bè bạn, Sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, 187 trang; Tri thức, thông tin và p h á t triển Viện Thông tin Khoa học xã hội, Bùi Biên Hoà Chủ biên, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, 370 trang; Hội thảo khoa học “Kinh t ế tri thúc và những vấn đ ề đặt ra đôĩ vói Việt N anỉ’ Ban Khoa giáo Trung ương - Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - Bộ Ngoại giao, Hà Nội, 2000, 259 trang; Những vấn đ ề về kinh t ế tri thức Tư liệu chuyên để, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000, 4 tập; Thời đại kinh t ế tri thức Sách tham khảo, Tần Ngôn Trước - Trần Đức Cung - Nguyễn Hữu Đức dịch, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, 464 trang; Những thách thức của sự p h á t triển trong xã hội thông tin Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, 208 trang; Bước chuyển sang nền kinh t ế tri thức ở m ột s ố nước trên t h ế giới hiện nay Lưu Ngọc Trịnh Chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2002, 444 trang; Kinh t ế tri thức ở Việt Nam Quan điểm và giải pháp p h á t triển Vũ Trọng Lâm Chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2004, 284 trang; Môi trường xã hội nền kinh t ế tri thức Những nguyên lý cơ bẩn Sách chuyên khảo chuyên ngành Xã hội học tri thức, Trần Cao Sơn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 12 Hà Nội, 2004, 219 trang; Kinh t ế tri thức với công cuộc p h á t triển ỏ Việt Nam Vương Liêm, Nhà xuất bản Thanh niên, Thành phốHồ Chí Minh, 2004, 291 trang; Kinh t ế tri thức - Thời cơ và thách thức đối với sự p h át triển của Việt Nam Đặng Hữu, Nhà xuất bản Chính trị quốíc gia, Hà Nội, 2004, 318 trang. Như vậy, mối quan tâm chính của các nhà nghiên cứu và quản lý của Việt Nam mối chỉ tập trung vào kinh t ế tri thức và xã hội thông tin. Đành rằng kinh tế tri thức là một trong những cột trụ của xã hội tri thức trong tương lai, nhưng, theo quan điểm mối đây của nhiều học giả và tổ chức quốc tế trên thế giới, thì kinh tế tri thức không phải là tất cả xã hội tri thức. Nói một cách khác, nhiều tác giả trong và ngoài nước ta vẫn thiên về xu hưống đồng nhất xã hội tri thức với xã hội thông tin và với kinh t ế tri thức, vẫn thiên về việc chú trọng đến vai trò của công nghệ thông tin mà ít có ý thức về các khía cạnh xã hội, chính trị, giáo dục và đạo đức của “xã hội tri thức”’, trong khi đó, những khía cạnh này cũng là những khía cạnh chủ chốt của xã hội tri thức. Có thể nói, những bài báo viết về xã hội tri thức của nưốc ta chưa cập nhật được quan niệm mới nhất của quốc t ế về xã hội tri thức. Vì thế, chúng tôi thực hiện công trình này vối mục đích Thông tin khách quan về quan điểm của các nhà khoa học 1. Về vấn đề này, có thể tham khảo bài viết “Xã hội tri thúc và vài suy n gh ĩ v ề con dường hội nhập" của Diễn đàn Công nghệ thông tin Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, đăng trên ngày 4 -5 -2 0 0 3 . 13 trên thế giới về xã hội tri thức, vể những vấn đề và những lĩnh vực liên quan đến xã hội tri thức trong đó tất nhiên phải có lĩnh vực xã hội thông tin và kinh tê tri thức, là những lĩnh vực vẫn được nhiều người đồng nhất với xã hội tri thức; về những đặc điểm của xã hội tri thức cùng những thách thức và triển vọng đốì với sự phát triển thế giới nói chung và của xã hội Việt Nam nói riêng; góp phần tạo lập cơ sở lý luận cho việc tiến tói xây dựng một xã hội tri thức ở Việt Nam, đưa nưốc ta hội nhập với xu thế phát triển của thế giối. 14 Ch ương I TỪ XÃ HỘI THÔNG TIN ĐEN XÃ HỘI T R I THỨC 1. Sự chổng chéo giữa hai khái niệm Trước hết chúng tôi phải nói rõ thêm rằng, thuật ngữ “xã hội thông tin” hay “xã hội tri thức” không nằm trong hệ thôhg khái niệm thuộc hệ thông phát triển của hình thái ý thức xã hội theo lý thuyết về quan hệ sản xuất của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Cũng giống như mọi sự vật, xã hội có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ. Từ mỗi góc độ ta lại có thể phân loại và phân cấp xã hội theo một hệ thống khác. Đứng từ góc độ của lý thuyết quan hệ sản xuất, chúng ta có các hình thái ý thức xã hội như xã hội cộng sản nguyên thuỷ, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản, xã hội xã hội chủ nghĩa, xã hội cộng sản chủ nghĩa. Đứng từ góc độ tôn giáo người ta có thể nói đến xã hội Cơ Đốc giáo, xã hội Phật giáo, xã hội Nho giáo, xã hội Hồi giáo... Và đứng từ góc độ văn minh, người ta nói đến sự chuyển biến theo dòng lịch sử từ xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, đến xã hội hậu công nghiệp hay xã hội thông tin, và tiếp 15 đến sẽ là xã hội tri thức. Đó là chưa kể đến việc người ta có thể lấy tên gọi của dân tộc để đặt cho xã hội của một quốc gia xã hội Mỹ, xã hội Nga, xã hội Trung Quốc, xã hội Việt Nam... Còn thuật ngữ “xã hội công dân”^ thì không phải là để chỉ một kiểu hình thái xã hội, mà là một thuật ngữ đưỢc dùng để chỉ tập hỢp các cá nhân và tổ chức trong quan hệ phân biệt vối nhà nước. Về' điều này, chúng tôi s ẽ trình bày thêm ỏ chương II. Tuy nhiên, các hệ thống xã hội khác nhau của các góc độ tiếp cận khác nhau không trùng khớp hoặc loại trừ nhau hay phải có quan hệ với nhau. Nghĩa là xã hội nông nghiệp không nhất thiết trùng khớp chỉ với xã hội phong kiến, xã hội thông tin hay xã hội tri thức không nhất thiết phải trùng khớp với xã'hội tư bản hay với xã hội cộng sản. Không nhất thiết phải quan niệm rằng khi ta nói đến các kiểu xã hội theo góc độ văn minh thì ta phải loại trừ các kiểu xã hội theo góc độ quan hệ sản xuất. Cũng không nhất thiết khi nói đến xã hội tri thức, chẳng hạn, thì phải xét xem nó có liên quan gì đến các hình thái xã hội, hoặc nó có tương ứng với một hình thái xã hội nào đó trong hệ thống các hình thái xã hội xét theo góc độ quan hệ sản xuất hay không. Nghĩa là ta phải quan niệm rằng các góc độ tiếp cận đa dạng chỉ có ý nghĩa bổ sung góc nhìn cho nhau mà thôi. * Nói đến xã hội thông tin, người ta thường hình dung đó là một xã hội dựa trên những ứng dụng phổ biến của các 1. Một thuật ngư có xuất xứ từ tiếng nưóc ngoài, còn được dịch là “xă hội dân sự”. 16 công nghệ thông tin và truyền thông mới, tức là công nghệ máy tính điện tử và kỹ thuật số, mà đỉnh cao là công nghệ internet. Với các công nghệ thông tin và truyền thông mới này, nhiều người đã nói đến một cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm do thời đại thông tin đem lại từ giữa thế kỷ XX, sau bốn cuộc cách mạng đã diễn ra trong lịch sử nhân loại với sự xuâ't hiện lần lượt của tiếng nói, chữ viết, kỹ thuật in ấn, các thiết bị truyền thông bằng điện và điện tửh Song, cũng có nhiều người dưới sự tập hỢp của UNESCO lại gọi cuộc cách mạng của những công nghệ mối ngày nay là cuộc cách m ạng công nghiệp lần thứ ba, m ột cuộc cách m ạng sô' tạo ra những vật vô hỉnh và m ạng liên k ết toàn cầu, sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất vối sự thay thê của máy móc cho lao động chân tay, và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai với việc phát triển công nghiệp dịch vụ^. Có thể nói, dù được xác định bằng tên gọi là cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm hay cách mạng công nghiệp lần thứ ba, thì trong suốt nửa thế kỷ qua, các công nghệ thông tin và truyền thông mới vẫn đang phát huy sức mạnh của nó, và ngày nay càng phát huy mạnh mẽ hơn bao giò hết. Đứng từ góc độ khoa học và công nghệ, xã hội thông tin được coi là một kiểu xã hội có các lĩnh vực hoạt động dựa 1. Xem Bùi Biên Hoà; “Toàn cầu hoá kinh tê dưới tác động của cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm”, in trong N hững vấn đ ề của toàn cẩu hoá kinh tê’Nguyễn Văn Dân chủ biên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001, tr. 124 -158; Phạm Thị Ngọc Trầm “Cách mạng thông tin - công nghệ và nền văn minh”, ngày 12-12-2005. 2. Xem UNESCO; Towards Knowledge Societies, Tlđd, tr. 5, 18, 24, 27, 45. 17 ! trên các công nghệ thông tin và truyền thông. Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, công nghệ thông tin đang đóng một vai trò quan trọng, tạo ra những sản phẩm có hàm lượng thông tin cao. Nền kinh tế đó được gọi là nền kinh tế mới, còn đưỢc cụ thể hoá bằng những tên gọi như kinh tê mạng, kinh tế sô", kinh tế thông tin, hay kinh tê dựa trên tri thức, và cuổì cùng được gọi ngắn gọn là kinh tế tri thức. Một sô" ngành công nghệ cao hiện nay đang được coi là những ngành mũi nhọn của nền kinh tê mới này. Chính vì vậy, trong quan niệm của nhiều người, xã hội thông tin cũng đồng nghĩa với xã hội tri thức, và xã hội tri thức lại đồng nghĩa với kinh tế tri thức. Việc đồng nhất khái niệm xã hội thông tin với xã hội tri thức không chỉ diễn ra ở Việt Nam, mà ngay cả trên thê" giới, hai khái niệm này vẫn được nhiều người dùng lẫn cho nhau. Điều này xuất phát từ một thực tê" là bản thân “thông tin” và “tri thức” là hai khái niệm khó có thể phân biệt rạch ròi. Trong tập 1 của cuô"n sách The Iníorm ation Age Economy, Society and Culture Thời đại thông tin Kinh tế, xã hội và văn hoá, xuất bản năm 1996, Manuel Castells đã định nghĩa “thông tin” là “dữ liệu được tổ chức và đưỢc truyền thông”, ông cũng nhắc lại định nghĩa đơn giản nhưng tương đô"i mang tính mở của Daniel Bell thông tin là “một tập hỢp những lời tuyên bô" về các sự việc hoặc ý tưởng, đưa ra một sự phán xét có lý hoặc một kết quả thực nghiệm, được truyền đi cho những người khác thông qua một phương tiện truyền thông nào đó theo một hình thức hệ thông nhâ"t định”. Như vậy, theo Castells, thông tin và 18 tri thức là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, tuy nhiên chúng cùng chia sẻ những đặc điểm chung, bao gồm việc tổ chức và truyền thông dữ liệu. Xã hội tri thức nhấn mạnh nhiều hơn đến khả năng sản sinh và tích hỢp tri thức mói, và đến khả năng tiếp cận thông tin, tiếp cận tri thức, dữ liệu và một tập hỢp rộng lớn các bí quyết nghề nghiệph Trong cuốn sách Kinh t ế tri thức Những k h á i niệm và vấn đê cơ bản, xuất bản năm 2001, trên cơ sở tổng hỢp các quan điểm của các học giả nưốc ngoài, nhà nghiên cứu Đặng Mộng Lân cho biết rằng thông tin theo nghĩa rộng bao gồm dữ liệu, còn thông tin theo nghĩa hẹp là kiến thức hay tri thức^. Và theo tác giả, tất cả mọi dữ liệu hay kiến thức tri thức đều là thông tin theo nghĩa rộng. Theo ông “Thông tin là dữ liệu đã đưỢc chế biến tức được xử lý’ - NVD tối mức độ nào đó, kiến thức tri thức - NVD là thông tin được chế biến “xử l ý ’ ở mức cao hơn”'*. Tuy nhiên, Đặng Mộng Lân lại trích quan điểm của p. F. Drucker cho rằng trong nền kinh tế tri thức, một phần quan trọng tri thức được “dịch” thành thông tin tức tri thức đưỢc mã hoá để có thể dễ dàng mua bán'*. Rõ ràng là “thông tin” và “tri thức” đang còn được dùng lẫn cho nhau. Đó là vì, như nhiều người đã nói “Vấn đề bản chất của thông tin, như ta đã biết, là một trong 1. Castells M. The Iníormation Age Economy, Society and Culture, Vol. 1, The Rise of the Netvvork Society, Malden, Mass./Oxíord, Blackvvell, 1996, p. 38, note 28. Trích theo UNESCO Tovvards Knovvledge Societies, Tlđd, chú thích 4 của phần Nhập đề, tr. 211.. Hai tập sau của cuô'n sách này là; Vol. 2, The Power oíldentity, 1997; Vol. 3, End of Millenium, 1998. 2, 3, 4. Đặng Mộng Lân Kinh t ế tri thức N hũng khái niệm và vấn dê cơ bản, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2001, tr. 21, 28, 19. 19 những vấn đề phức tạp nhất và có nhiều tranh cãi nhất trong khoa học hiện đại” A. Ursul và E. Semeniuk, 1978; rằng; “Vấn đề chính của chúng ta là chúng ta không biết thông tin là cái gì”' H. Bosma, 1983. Ngay cả khái niệm tri thức cũng có nhiều phát biểu khác về nó, trong đó có cả những phát biểu mang tính cảm nhận chủ quan. Chẳng hạn như Ngân hàng Thế giới đã đưa ra một định nghĩa rất văn vẻ “Tri thức giống như ánh sáng. Không trọng lượng và vô hình, nó dễ dàng đi khắp thế giới, soi sáng cuộc sông của người dân ở khắp mọi nơi”^1999. Còn Sven Ove Hansson, Giáo sư triết học Viện Công nghệ Hoàng gia Stockholm, thì đưa ra một định nghĩa thiên về tính chủ quan “Trước hết, tri thức là một dạng niềm tin. Điều gì không được người ta tin thì không thể là tri thức. Bởi vậy, nếu tôi tiếp cận được một thông tin xác thực nhưng lại không tin vào nó, thì việc tôi biết đến thông tin đó cũng không làm thành tri thức. Mặt khác những niềm tin không đúng đắn cũng không thể đưỢc coi là tri thức .... Như thế, tri thức có cả yếu tố chủ quan lẫn yếu tố khách quan”^. 1. Đặng Mộng Lân Kinh t ế tri thức N hững khái niệm và vấn đ ề cơ bản, Sđd, tr. 23. 2. Trích theo Hans-Dieter Evers Transition towards a Knovvledge Society; Malaysia and Indonesia Compared” “Quá độ sang một xã hội tri thức; so sánh Malayxia và Inđônêxia”, hdevers/ file; transition tovvards a Knowledge Society- hde 01/07/2002 354 PM, tr. 5. 3. Sven Ove Hansson “Uncertainties in the Knovvledge Society” “Những tình trạng bấp bênh trong xã hội tri thức”, UNESCO, ISSJ, 171/2002, p. 39-46 Đoạn trích ở tr. 39, { 8 pages; { 20 s. o. Hansson đã phân biệt rất rõ dữ liệu với thông tin và với tri thức, ông lấy ví dụ .nếu ông có một cuốn sách vê thói quen đi lại của người dân Stockholm, thì điều đó có nghĩa là ông được tiếp cận thông tin về chủ đê này chứ chưa phải là tri thức. Nếu ông đọc cuốn sách, thì thông tin có thể sẽ dẫn đến tri thức. Tuy nhiên, sự chuyển biến từ thông tin thành tri thức như vậy chỉ có thể xảy ra nếu ông hiểu đưỢc thông tin để nó có thể đưỢc hấp thụ vào hệ thông niềm tin của ông một cách đúng đắn. Nếu ông học thuộc lòng văn bản cuốn sách mà không hiểu, thì ông có thông tin chứ không phải có tri thức về chủ đề đó. Còn dữ liệu thì khác biệt với thông tin ở chỗ là nó không có đưỢc một hình thức thích hỢp cho sự hấp thụ. Nếu thay vì cuốn sách, ông có câu hỏi mà dựa vào đó cuốn sách đã đưỢc viết ra, thì tức là ông có dữ liệu chứ không phải thông tin. Nói tóm lại, dữ liệu phải được hấp thụ bằng con đường nhận thức để có đủ điều kiện là thông tin, và phải đưỢc hấp thụ bằng con đường nhận thức để có đủ điều kiện là tri thức*. Trong cuô"n sách Inỉorm ation and Know ledge Society Xã hội thông tin - tri thứcY, xuất bản năm 2002, hai tác giả là Suliman Al-Hawamdeh PGS. TS. Ban nghiên cứu 1. Sven Ove Hansson “Uncertainties in the Knovvledge Society”, Tlđd, tr. 39-40. 2. Việc diễn đạt cụm từ này sang tiếng Việt, nếu không chú ý sẽ rất dễ gây hiểu lầm. Nếu ta dịch là “Xã hội thông tin và tri thức”, thì có thể khiến người đọc hiểu đây là môi quan hệ giữa một vế là “xã hội thông tin” vói mệt vê là “tri thức”. Nhưng thực tê là tác giả bàn đến một kiểu xã hội mang bản tính của “thông tin và tri thức”, ở đây, “thông tin và tri thức” là một tính từ kép bô nghĩa cho danh từ “xã hội”, chính vì vậy mà chúng tôi buộc phải thay chữ “và” bằng dấu gạch nốì để khỏi nhầm lẫn. 21 r thông tin thuộc Đại học Công nghệ Nam Dương Nanyang, Xingapo và Thomas L. Hart GS. TS. của Trường Nghiên cứu Thông tin thuộc Đại học Quốc gia Plorida, Hoa Kỳ, đã phân biệt tri thức với thông tin như sau “Chúng tôi định nghĩa tri thức là thông tin tích cực và năng động đó là thông tin được đọc hoặc được thông báo, đưỢc hấp thụ và đưỢc sử dụng. Định nghĩa này sẽ giúp ta phân biệt giữa các trung tâm thông tin thư viện, thư viện số", thư mục, cổng thông tin, với các tô chức tri thức. Trong khi các trung tâm và các cổng thông tin đưỢc dùng để nắm bắt, tổ chức và quản lý thông tin, thì các tổ chức và các cổng tri thức vượt qua khỏi việc quản lý thông tin để quản lý tri thức. Điều này đòi hỏi phải sử dụng và thao tác thông tin để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng. Việc biến thông tin từ dạng tĩnh sang dạng động cũng có thể dẫn đến sự đổi mới và sáng tạo. Thông thường, tri thức tồn tại trong sách vở và tư liệu dưới dạng thông tin tĩnh sẽ không có ích gì nếu thông tin đó không đưỢc đọc và đưỢc lĩnh hội”k ĐỐI với khái niệm “tri thức”, nhiều người đã phân ra hai loại tri thức tri thức hiện và tri thức ẩn. Ví dụ, hai tác giả Al-Hawamdeh và Thomas L. Hart quan niệm về hai loại tri thức này như sau • Tri thức hiện, được xác định như là thông tin và kỹ năng mà chúng có thể đưỢc thông báo và mô tả dưối dạng tư liệu một cách dễ dàng ví dụ như dữ liệu số. 1. Suliman Al-Hawamdeh và Thomas L. Hart Inỉormation and Knowledge Societỵ Xã hội thông tin - tri thức, McGraw-Hill Education, Singapore, 2002, p. 3. 22 • Tri thức ấn, được xác định như là tri thức không mã hoá mà con người đem theo trong mình và sử dụng trong công việc của mình nhưng không đưỢc mô tả trong bất cứ một tư liệu nào’. Năm 2005, trong bản báo cáo Tìm hiểu xã hội tri thức, Vụ các Vấn đê Kinh tế và Xã hội DESA thuộc Ban Thư ký của Liên hợp quốc cũng phân ra hai loại tri thức như trên và họ đồng nhất thông tin với tri thức hiện để phân biệt nó vói tri thức ẩn. Họ phát biểu; “Tri thức hiện thông tin ám chỉ cái niềm tin được xác minh là đúng’ Platon, đưỢc mã hoá bằng ngôn ngữ hình thức và mang tính hệ thống. Nó có thể được kết hỢp, lưu trữ, truy cập và truyền tải thông qua các phương tiện khác nhau, bao gồm cả các công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại. Tri thức ẩn lè một sự pha trộn linh hoạt kinh nghiệm trong khuôn khổ với các giá trị, vối thông tin tình huống và sự thấu hiểu chuyên môn để cung cấp một khuôn khô đánh giá và hỢp nhất các kinh nghiệm và thông tin mối. Tri thức ẩn là thông tin kết hỢp với kinh nghiệm, tình huống, sự lý giải và sự phán đoán”^. Sau đó, cũng giông như Nonaka, Takeuchi và Konno, DESA ví tri thức như là một tảng băng trôi phần nổi của 1. s. Al-Hawamdeh và Th. L. Hart Information and Knowledge Society, Sđd, tr. 94-96. 2. DESA Department of Economic and Social Affairs of the United Nations S ecretariat, U nderstanding KnowIedge Societies Tìm hiểu xã hội tri thức, UN, New York, May 2005 179 p., tr. 19, 23
xã hội tri thức