u máu ở môi dưới
Read Chương 119 from the story [ĐM - Đang edit] Mỗi ngày nhân vật chính hộc máu ba lần by Arisassan with 67 reads. đammỹ, 1x1, xuyênthư. Hàng nghìn năm qua Thượng đế tọa trấn ở đông thiên, mỗi ngày đều dùng thiên tài địa bảo tốt nhất Thiên giới để chăm sóc bồi bổ cho cơ
"Từ khi mới lớn lên, em đã thấy môi dưới của mình bị thâm thành nhiều quầng nhỏ ở giữa. Bác sĩ đầu tiên khám nói là u máu, chỉ cần mổ bóc đi là khỏi, nhưng em không đi. Sau đó có người nói do thiếu vitamin, nhưng uống mãi không chuyển. Xin cho em một lời khuyên".
Sùi mào gà ở miệng ở môi ở họng triệu chứng và cách điều trị. 1. Nguyên nhân mắc sùi mào gà ở miệng. Sùi mào gà ở miệng ở môi ở họng. Sùi mào gà là căn bệnh xã hội cơ bản do vi rút human papilloma gây ra. Virus này lây truyền qua những con đường như: Quan hệ tình
Vay Tiền Home Credit Online Có An Toàn Không. U máu là bệnh lý thường gặp ở trẻ em. Mặc dù đây không phải là một bệnh ác tính, bệnh sẽ tự khỏi khi trẻ lớn, các di chứng của bệnh liên quan chủ yếu đến vấn đề thẩm mỹ… Hiện nay, đối với phần lớn các thầy thuốc thì vấn đề chuẩn đoán và điều trị u máu thực sự còn lúng túng. Sự chuẩn đoán nhầm lẫn giữa các bệnh u máu và các dị dạng mạch máu bẩm sinh ở trẻ em làm tăng tỉ lệ di chứng cho điều trị. Các hiểu biết mới về chuẩn đoán và điều trị bệnh u máu giúp các thầy thuốc tránh được những biến chứng do bệnh hay do điều trị gây ra. U máu trẻ em là một bệnh thường gặp, chiếm tỉ lệ khoảng 10% ở trẻ sơ sinh. Bệnh được hình thành ngay sau khi đứa trẻ ra đời, đó là kết quả của quá trình tăng sinh tạm thời của các tế bào nội mạch. U máu được phát ngay trong giai đoạn sơ sinh và luôn diễn ra ba giai đoạn phát triển, ổn định và thoái triển. Do đặc điểm lâm sàng không rõ ràng của bệnh u máu, nên việc chuẩn đoán phân biệt với các dạng bệnh lý của mạch máu khác rất khó khăn, chính vì vậy điều trị u máu cho đến nay vẫn là một vấn đề thách thức đối với nhiều bác sĩ của nhiều chuyên khoa khác nhau. Những hiểu biết cơ bản về bệnh sinh, chuẩn đoán xác định, chuẩn đoán phân biệt, tiến triển của bệnh giúp cho các bác sĩ có được hướng điều trị đúng đắn bệnh u máu, một dạng bệnh thường gặp ở trẻ em. 1. Phân loại bệnh lý mạch máu Trong một thời gian dài trước đây, các bác sĩ thường gộp chung các bệnh lý mạch máu khác nhau dưới một tên chung là u máu hay bướu máu. Sự đơn giản hóa này đã dẫn đến nhiều sai lầm trong chẩn đoán và khó khăn trong điều trị. Một loạt những di chứng do chẩn đoán sai cũng như do điều kiện chính trị không đúng hướng cũng bắt đầu từ sự không thống nhất về thuật ngữ và sự hiểu biết về bệnh nguyên của các bệnh lý mạch máu. Những nghiên cứu hiện đại gần đây về bệnh lý mạch máu đã đưa những khái niệm và thuật ngữ rõ ràng hơn cho các bệnh lý mạch máu. Theo Hiệp hội quốc tế nghiên cứu về bệnh lý mạch máu ISVA 1986, nhóm các bệnh lý mạch máu, bao gồm các di dạng dạng mạch máu có tính chất bẩm sinh và u máu, một dạng bệnh lý tăng sinh tế bào nội mạch và chỉ xuất hiện sau khi sinh. Do bệnh nguyên của hai nhóm bệnh lý này khác nhau, nên việc điều trị cho từng nhóm bệnh cơ bản là khác nhau. Các bệnh dị dạng mạch máu là nhóm bệnh có sự phát triển bất thường của tất cả các loại mạch máu mao mạch, động mạch, tĩnh mạch, bạch huyết trong thời kỳ bào thai. Các bệnh lý này có thể phát hiện ngay khi đứa trẻ sinh và phát triển tương ứng cùng với đứa trẻ đó. Các dạng bệnh lý được gọi tên theo thanh phần mạch bị tổn thương chính, như dị dạng mao mạch, dị dạng động mạch, dị dạng tĩnh mạch… Cũng tồn tại các thể dị dạng phối hợp nhiều thành phần như dị dạng động – tĩnh mạch, dị dạng mao – động mạch… Đây chính là những thể khó khăn trong việc chuẩn đoán và điều trị. U máu là nhóm bệnh lý mạch máu được đặc trưng bởi sự tăng sinh quá mức của tế bào nội mạch. U máu trẻ em là một dạng u máu thường gặp nhất trong nhóm bệnh lý này, thường phát hiện sau khi sinh và phát triển qua ba giai đoạn đặc trưng giai đoạn tiến triển từ khi sinh đến 8 – 12 tháng, giai đoạn ổn định trong 1 -1,5 năm, giai đoạn thoái triển đến khi đứa trẻ 8 -10 tuổi. Ngoài ra các dạng u máu như u máu bẩm sinh, u máu nội mạch… 2. Bệnh u máu trẻ em U máu là bệnh lý thường gặp ở trẻ sơ sinh, với tỉ lệ từ 10 – 12%. Bệnh u máu có đặc điểm là chỉ xuất hiện vào tuần lễ thứ nhất hay thứ tư sau khi sinh. Bệnh u máu gặp ở trẻ gái nhiều gấp đôi so với trẻ trai. Tỉ lệ bệnh ở trẻ da trắng cao gấp 3 lần so với trẻ da màu và bệnh không có tính di truyền. Bệnh u máu ở trẻ em được thể hiện dưới ba dạng lâm sàng u máu trong da, dưới da và hỗn hợp. U máu trong da thể hiện dưới dạng một đám màu đỏ tươi nổi hờ trên da bình thường, ranh giới u không rõ ràng. U máu dưới da ngược lại chỉ là một vùng nổi gờ có màu sắc đỏ nhạt, nằm phía dưới của vùng da bình thường hay da xanh nhợt. U máu thể hỗn hợp, trong da và dưới da, là loại u hay gặp nhất và chiếm tỉ lệ 75% các loại u máu. U được biểu hiện bởi một vùng đỏ nổi gờ trên một vùng da lành, sau đó vùng dưới da dần phát triển rộng xung quanh vùng u máu trong da. Thể u máu hỗn hợp thường chỉ xuất hiện ở một vài vùng tổn thương, vị trí hay gặp là ở vùng đầu, mặt , cổ. U máu ở trẻ em Ảnh minh họa Tiến triển của bệnh u máu bao giờ cũng trải qua 3 giai đoạn và chắc chắn sẽ tự khỏi khi đứa trẻ lớn. U máu thường xuất hiện vào tuần đầu tiên sau khi đứa trẻ ra đời, hình thái lâm sàng rất hay thay đổi, có thể là một đám giãn mạch mầu xanh xám, có khi là sẩn đỏ hay dát màu xanh. Tổn thương ban đầu có thể dễ lẫn với các u sắc tố và thường được bỏ qua trong tuần lễ đầu tiên. Nhưng sau đó u máu diễn biến nhanh chóng và biểu hiện rõ nét trên lâm sàng. Giai đoạn tiến triển của u máu kéo dài từ 6 – 8 tháng tùy theo thể lâm sàng. Với thể u máu trong da, thời gian phát triển có thể kéo dài từ 3 – 6 tháng, riêng thể u máu dưới da, thời gian này dài hơn, từ 8 – 10 tháng. Trong giai đoạn này, u máu tăng cả về thể tích và diện tích của khối u. Khối u trở nên đỏ và to dần theo thời gian, ảnh hưởng nhiều đến vấn đề thẩm mỹ. Nếu khối u nằm ở các vị trí như mi mắt, môi, mũi thì ngoài vấn đề thẩm mỹ còn có những rối loạn về chức năng của đứa trẻ. Nếu không điều trị đúng, các rối loạn do khối u gây ra có thể dẫn tới những rối loạn về chức năng khó phục hồi về sau này. Từ tháng 8 trở đi, u máu sẽ không thay đổi về thể tích và màu sắc, khối u sẽ ổn định như vậy cho tới tháng 18 – 20. Đây là giai đoạn ổn định của u máu, giai đoạn này hầu như không ảnh hưởng dưới tác dụng của điều trị nội khoa. Sang giai đoạn thoái triển, khối u nhỏ dần, màu sắc trở nên nhạt màu. Kích thước của khối u máu càng nhỏ khi trẻ lớn, đến 6 – 8 tuổi, ảnh hưởng duy nhất của u máu chỉ là vấn đề thẩm mỹ và không có những rối loạn chức năng đáng kể nào. 3. Biến chứng của bệnh u máu trẻ em Trong quá trình phát triển của u máu từ những tuần đầu tiên của trẻ sơ sinh cho đến lúc 8 – 10 tuổi, các biến chứng có thể xảy ra gồm hai loại chính, biến chứng do chính u máu gây ra và biến chứng liên quan đến việc điều trị. Biến chứng do sự phát triển của u máu loét và hoại tử vùng trung tâm khối u, bội nhiễm thứ phát sau khi có hoại tử khối u những biến chứng hay gặp trong quá trình phát triển của khối u. Chảy máu cũng là một biến chứng không hiếm gặp khi khối u phát triển nhanh về thể tích. Các biến chứng toàn thân như suy tim hay tắc mạch hiếm khi xảy ra với các thể u máu trong da. Các u máu nằm ở một số vùng như mi mắt, mũi, tai, miệng, hậu môn, … sẽ gây ra những rối loạn nặng nề về chức năng cho đứa trẻ. U máu ở mi mắt có thể dẫn đến nhược thị, lác hay rối loạn thị giác của đứa trẻ ngay từ những tuần đầu tiên. Các biến chứng liên quan tới chức năng chỉ có thể giải quyết bằng điều trị phẫu thuật. Biến chứng do điều trị hoại tử vùng da trung tâm của u máu do các phương pháp điều trị như xạ trị, áp lạnh hay tiêm xơ. Loét bề mặt u máu hay bội nhiễm toàn bộ khối u thường xảy ra sau khi có tình trạng hoại tử khối u máu. Một trong những biến chứng thường gặp sau khi điều trị bằng xạ trị là tình trạng viêm hoại tử tái phát ở vùng chiếu xạ. Những rối loạn về sự phát triển của các vùng mô phía dưới u máu được chiếu xạ không hiếm gặp hiện nay như thiểu dưỡng da và tổ chức dưới da, thiểu dưỡng xương hàm, lép nửa mặt, thoái hóa khớp gối, ngắn chi, lệch vẹo cột sống,… 4. Điều trị u máu Nguyên tắc điều trị u máu ở trẻ em là cần chẩn đoán chính xác bệnh u máu, đồng thời cần phân biệt với các thể bệnh lý u máu khác như dị dạng mạch máu để việc điều trị không bị lẫn lộn và không kết quả. Các phương pháp điều trị kinh điển như xạ trị, tiêm xơ, áp lạnh, … hầu như không có kết quả trong giai đoạn u đang phát triển, càng không có ý nghĩa trong các giai đoạn phát triển ổn định và thoái triển của khối u. Ngoài ra các phương pháp này còn để lại những di chứng nặng nề không những về mặt thẩm mỹ, mà còn để lại nhiều rối loạn chức năng nghiêm trọng. Khi đã chuẩn đoán là u máu trẻ em, điều trị duy nhất được coi là thích hợp là điều trị nội khoa. Liệu pháp corticoid được coi là có hiệu quả với tất cả các thể u máu trẻ em. Trong trường hợp khối u ít đáp ứng với corticoid đường uống, có thể dùng kết hợp tiêm corticoid trực tiếp vào khối u hay dùng crème có chứa corticoid bôi ngoài da. Nếu khối u nằm ở những vùng có rối loạn về chức năng như mi mắt, mũi, … cần đặt vấn đề phẫu thuật sau khi đã điều trị nội khoa. Phẫu thuật tạo hình nhằm mục đích cắt bỏ khối u và phục hồi lại chức năng giải phẫu của các cơ quan bị tổn thương. Cần nhớ rằng u máu trẻ em có thể tự khỏi khi trẻ lớn, những ảnh hưởng duy nhất của u máu sẽ chỉ liên quan tới vấn đề thẩm mỹ. Chính vì vậy có thể tiến hành phẫu thuật tạo hình để giải quyết các di chứng về thẩm mỹ khi đứa trẻ đã lớn. Bệnh u máu trẻ em cho đến nay vẫn hay bị chẩn đoán nhầm với các dạng bệnh lý mạch máu khác như dị dạng mạch máu, chính vì vậy việc điều trị thường gặp nhiều khó khăn và di chứng do điều trị không đúng thường để lại những hậu quả nặng nề cả về thẩm mỹ và chức năng. Hai điểm cần lưu ý trong khi điều trị u máu ở trẻ em là bản thân u máu đáp ứng tốt với liệu pháp corticid vầ có thể tự khỏi khi trẻ lớn, không được điều trị u máu bằng các phương pháp xạ trị hay tiêm xơ. Đây là những sai lầm thường gặp trong quá trình điều trị u máu trẻ em ở phần lớn các bác sĩ. Thiết Sơn – Bộ môn phẫu thuật tạo hình, Đại học Y Hà Nội TTVN số 9 Lượt xem
U mạch máu là một tình trạng bệnh lý thường gặp ở trẻ nhỏ bắt đầu từ vài tuần sau sanh, tuy gọi là u nhưng đây không phải là một tình trạng quá đáng lo ngại cho bé. Bệnh chỉ có thể gây những rối loạn nhỏ tuỳ thuộc vào vị trí của u. Cùng Docosan tìm hiểu về bệnh lý này để hiểu rõ hơn về con trẻ hay người thân của bạn nhé. Tóm tắt nội dung1 Tổng quan về u mạch Diễn tiến tự nhiên của u máu2 Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của u Yếu tố nguy cơ mắc u Chẩn đoán bệnh u máu3 Điều trị u máu Tổng quan về u mạch máu U mạch máu hay u máu là tình trạng tăng sinh quá mức của mạch máu. U mạch máu là loại u lành tính, thường xuất hiện trong vài tuần đầu sau sinh, một số ít bẩm sinh ngay khi trẻ sinh ra, u to dần trong những năm đầu tiên trước khi tự thoái triển. U mạch máu thường phát triển ở thời kỳ thiếu nhi 1-5 tuổi, nên thường được gọi là u máu thiếu nhi hay u máu ở trẻ, một vài trường hợp xuất hiện ở trẻ lớn tuổi hơn. Theo diễn tiến tự nhiên 40% u sẽ biến mất hoàn toàn, 60% còn lại có thể thoái hoá nhiều hoặc ít, phải can thiệp phẫu thuật. Trên tổng thể, 90% u mạch máu sẽ thoái triển tự nhiên. U máu thiếu nhi là một vấn đề thường gặp ở trẻ. Một trẻ nhiều u máu không hẳn có tình trạng sức khoẻ tệ hơn trẻ có một u máu hay trẻ bình thường, và u sẽ thoái triển dần khi trẻ lớn. U mạch máu có thể xuất hiện ngoài da hay bên trong cơ thể. Bên trong cơ thể u thường ở các cơ quan như như gan, ruột, phổi, cột sống hay não. U mạch máu có thể đơn độc hoặc đa u máu ngoài da. Diễn tiến tự nhiên của u máu Sự tăng sinh tế bào của u mạch máu diễn ra nhanh chóng ở trong năm đầu của trẻ, rồi co hồi chậm lại ở giai đoạn đầu ở tuổi thiếu nhi 1-5 tuổi sau đó thoái hoá và biến mất sau 5-8 tuổi. Sau khi u biến mất, da trở lại tình trạng bình thường hoặc để lại một vết sẹo nhẵn. Tuy nhiên trong trường hợp u máu quá lớn, có hiện tượng tiêu huỷ mô, kết hợp với tình trạng tiêu cầu thấp, nguy cơ xuất huyết cao, có thể đe doạ mạng sống. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của u máu U mạch máu trên da có hình dạng giống một vết bớt đỏ, phẳng hoặc lồi ra trên bề mặt da. U có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào nhưng thường nhất là ở vùng đầu mặt, rồi đến cổ gáy, lưng, ngón tay. U thường là một khối mềm, nhẵn hoặc gồ ghề nhiều thuỳ, với kích thước thay đổi từ vài mm đến vài cm. Màu sắc thay đổi từ hồng đến đỏ tía, khi ép sẽ trắng bệch đi. U mạch máu không đau, trừ u cuộc mạch u glomus tuy nhiên u có thể bị loét hoặc nhiễm trùng tại chỗ gây chảy rất nhiều, cần phải có biện pháp cầm máu kịp thời nếu không sẽ tương đối nguy hiểm. U cũng có thể chảy máu tự nhiên hoặc sau va chạm. U phát triển nhanh hay chậm tuỳ thuốc vào vị trí, phát triển nhanh ở nơi dễ tiếp xúc và va chạm hoặc gần niêm mạc như ở môi, mắt, vùng cổ, tuyến nước bọt, tuyến dưới hàm. U mạch máu ở vùng tứ chi và ngực bụng sẽ phát triển chậm hơn. Tiến triển của u còn phụ thuộc một phần vào bệnh lý kết hợp khác của trẻ. U mạch máu không lây truyền từ người bệnh sang người lành, hiện nay không có biện pháp nào để phòng ngừa bệnh. Yếu tố nguy cơ mắc u máu U mạch máu thường gặp ở những đứa trẻ có các đặc điểm sau Trẻ da trắngTrẻ sinh nonSinh ra từ một thai kỳ đa thaiNhẹ cân so với tuổi thai. Chẩn đoán bệnh u máu Việc chẩn đoán u màu thường chỉ cần hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng là đủ. Khám lâm sàng giúp xác định u thuộc loại nông, sâu hay hỗn hợp. Loại nông thường dễ nhầm với bớt son, là một dị dạng mao mạch. Loại sâu có thể nhầm vơi dị dạng bạch mạch, tĩnh mạch hoặc hỗn hợp. Trên phương diện hình ảnh học Siêu âm Doppler hoặc chụp DSA mạch máu cho phép xác định hoạt động của dòng máu trong u, giúp phát hiện “dò động tĩnh mạch trong u”, đánh giá tiến triển của u máu. Chụp động mạch giúp xác định mạch máu chính nuôi u và tương quan với các cấu trúc lân cận, giúp định hướng khi cần phẫu thuật. CT-scan và MRI dùng để đánh giá trường hợp u nằm trong cơ thể, đánh giá khả năng phẫu phương diện mô học Trong những trường hợp khó chẩn đoán, bác sĩ có chỉ định sinh thiết u để phân biệt với các dị dạng mạch máu không điển hình hoặc với bệnh lý mạch máu khác. Hầu hết khối u có kích thước nhỏ, theo dõi suốt thời kỳ phát triển nhanh và thời kỳ co hồi bởi hầu hết u se thoái triển và da sẽ trở lại bình thường. Với u loét chảy máu băng ép ít nhất 10 phút để cầm máu và dùng kháng sinh uống, hiếm khi phải khâu cầm máu. Nếu u chảy xối xả như u mạch máu trong xương, chẳng hạn u máu gò má chảy máu sau nhổ răng phải mổ cấp cứu để cầm máu kết hợp với phẫu thuật triệt để. Ngoài ra u máu ngoài da có thể điều trị bằng tia laser tia laser có tác dụng giảm đỏ, giảm kích thước khối u và thúc đẩy nhanh quá trình liền vết thương sau khi u tự thoái triển. Chỉ định phẫu thuật thường được đặt ra khi U lớn nhanh, cản trở chức năng sinh hoạt như thị lực, ăn uống, tiêu tiểu. U ở những vị trí dễ va chạm liên tục do tiếp xúc hay bị bội nhiễm vi trùng cũng thường diễn tiến nhanh, có thể phải cắt đi chèn ép ở mũi gây biến dạng máu có biến chứng loét hoặc chảy máu nặng, không đáp ứng điều trị corticoids và laser liệu u vẫn tồn tại đến giai đoạn trưởng thành, có nghĩa là u sẽ không thể tự thu hồi được cũng nên cân nhắc mổ cắt. Cảm ơn bạn đã tìm đọc bài viết “Bệnh u mạch máu triệu chứng và phương pháp điều trị?”. Hy vọng bài viết đã cung cấp những kiến thức cần thiết và bổ ích cho bạn về căn bệnh này. Nếu phát triển trẻ có những triệu chứng trên, hãy đưa trẻ đi khám ngay để được bác sĩ tư vấn và điều trị thích hợp nhất cho từng trường hợp. Bài viết được tham khảo từ bác sĩ và các nguồn tư liệu đáng tin cậy trong và ngoài nước. Tuy nhiên, Docosan Team khuyến khích bệnh nhân hãy tìm và đặt lịch hẹn với bác sĩ có chuyên môn để điều trị. Để được tư vấn trực tiếp, bạn đọc vui lòng liên hệ hotline 1900 638 082 hoặc CHAT để được hướng dẫn đặt hẹn. Nguồn tham khảo NIH
Nội dung tóm tắt1. Bệnh u mạch máu là gì?Các đặc trưng của bệnh u máu2. Phân loại u mạch Theo tổ chức Theo lâm sàngMột số thể u máu đặc biệt khác3. Nguyên nhân gây u mạch máu4. Triệu chứng của bệnh u mạch máu5. Chẩn đoán u mạch máu như thế nào? Chẩn đoán xác Chẩn đoán phân biệt6. U mạch máu có nguy hiểm không? Điều trị như thế nào?Điều trị u mạch máu U mạch máu là một khối u máu dưới da lành tính phổ biến nhất ở trẻ em có thể tìm thấy ở tất cả các vùng của cơ thể. Tỉ lệ bệnh xuất hiện ở trẻ là 59% khi mới sinh, 40% trong tháng đầu, 30% ở trẻ đẻ non dưới 1,8kg cân nặng. 1. Bệnh u mạch máu là gì? U mạch máu tên khoa học là hemangioma- he-man-jee-O-muh là một vết bớt màu đỏ tươi xuất hiện khi sinh hoặc trong tuần đầu tiên hoặc thứ hai của cuộc đời. Nó trông giống như một vết sưng cao su và được tạo thành từ các mạch máu thêm trên da. U mạch máu là một vết bớt màu đỏ tươi Một hemangioma có thể xảy ra bất cứ nơi nào trên cơ thể, nhưng phổ biến nhất xuất hiện trên mặt, da đầu, ngực hoặc lưng. Điều trị cho bệnh hemangioma của em bé hemangioma ở trẻ sơ sinh thường không cần thiết vì nó mất dần theo thời gian. Một đứa trẻ có tình trạng này trong giai đoạn trứng nước thường có rất ít dấu vết tăng trưởng ở tuổi thứ 10. Việc điều trị có thể được xem xét nếu khối u ác tính cản trở việc nhìn, thở hoặc các chức năng khác. U máu xuất hiện thường xuyên hơn ở những em bé là nữ, da trắng và sinh non. Các đặc trưng của bệnh u máu Bệnh u máu được đặc trưng bởi sự tăng sinh tế bào nội mô và quá trình tự nhiên. Các giai đoạn của u máu có thể được chia thành Giai đoạn tăng sinh nhanh 0-1 năm Thường diễn ra trong 3 tháng, nhưng có khi diễn ra trong 6 tháng với u máu nông, 8-10 tháng với u máu sâu. Trong giai đoạn này, 80% u máu tăng gấp đôi kích thước, trong đó khoảng 5% phát triển ồ ạt, có thể đe dọa tính mạng, ảnh hưởng chức năng và thẩm mỹ của trẻ; Giai đoạn ổn định 1-5 năm Sau giai đoạn tăng sinh, u máu dần dần ổn định cả kích thước và dấu hiệu lâm sàng, kéo dài đến tháng thứ 18-20; Giai đoạn thoái triển 5-10 năm Giai đoạn này thời gian đầu màu da nhạt dần sau đó u máu dưới da xẹp dần, nhưng chậm hơn. Sự thoái triển này xảy ra đến 70-80% các trường hợp sau 6 tuổi. Sự thoái triển của u máu dưới da thường chậm hơn u máu da. U mạch máu được chia thành 3 giai đoạn Có ba loại u máu, bao gồm U máu mao mạch hay u máu phẳng. U máu dạng hang. U máu hỗn hợp. Trong đó u máu phẳng xuất hiện như một vết son hay một mảng màu rượu vang trên da do sự tăng sinh bất thường của hệ thống mao mạch dưới da. 2. Phân loại u mạch máu Theo tổ chức học U máu mao mạch Là thể hay gặp nhất, chiếm khoảng 60% các ca mắc u mạch máu. Ở bệnh nhân u máu mao mạch, các mao mạch tăng sinh và giãn da nhưng không có sự tăng sinh của các tế bào nội mô. U máu mao mạch chứa các mao mạch ở nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, có mao mạch rỗng, có mao mạch đầy, rộng và không đều như các mao mạch bình thường. U máu hang Dạng u máu này chiếm khoảng 30% các trường hợp mắc u máu. U máu hang có tổ chức giống như những cơ quan cương, gồm những hốc nhỏ, đầy máu, thông với nhau và thường có một vỏ xơ bọc, có thể đè ép lên các tổ chức cứng ở phía dưới. Đôi khi những hốc máu trong u máu hang được ngăn cách nhau bởi các vách collagen có nhiều mô võng và thiếu chất chun. Trong u máu hang, các mao mạch giãn rất rộng. Thể u máu này có thể kết hợp với những tổn thương khác, nhất là với u bạch mạch, hình thành u máu – bạch mạch. Ngoài ra, nó cũng có thể kết hợp với những tổ chức khác như cơ, xương, sụn,… tạo thành u mạch máu trong cơ, u máu trong xương,… U mạch máu có nhiều phân loại khác nhau Theo lâm sàng Về mặt lâm sàng, có các thể u máu sau U máu nông dưới da Là loại u mạch máu ở phần sát dưới da, có hình thái là u chứa những mao mạch giãn rộng, tăng sinh, ứ máu đi kèm với tổ chức hang. U máu nông dưới da xuất hiện sau, tiến triển chậm, thường chỉ được phát hiện khi đã có kích thước khá lớn. Loại u máu này có thể đạt tới kích thước lớn như quả cam, xuất hiện đơn lẻ hoặc thành 3 – 4 u rải rác ở mặt, đặc biệt là ở vùng cổ. Da u máu nông có thể có màu bình thường hoặc tím nhạt, có tĩnh mạch nông chạy phía trên, u phình to ra khi làm việc nặng nhọc hoặc khi cúi xuống. U máu nông dưới da sờ mềm, không đau, có thể bóp xẹp và lại phồng lên sau vài giây. Loại u máu này không gây rối loạn chức năng, chỉ gây vướng, khó khăn khi lao động và ảnh hưởng tới thẩm mỹ. U máu sâu dưới da Là loại u máu sâu ở phần mềm, sâu hơn lớp mỡ, có thể thâm nhiễm cơ và các cơ quan nằm sâu như tuyến nước bọt, thần kinh. Biểu hiện u máu sâu khá giống với u máu nông dưới da nhưng da thường bị thâm nhiễm nhiều hơn, có tĩnh mạch chạy ở trên khối u, da hơi nhăn, màu hồng hoặc tím. U ít khi gồ lên khỏi da, chủ yếu lan sâu. U máu sâu dưới da cũng phồng to hơn khi cúi đầu hoặc lao động nặng, bóp xẹp một phần. Loại u mạch máu này tiến triển chậm, ảnh hưởng nhiều tới thẩm mỹ và gây rối loạn chức năng các cơ quan tùy vị trí phân bố. Cụ thể, u máu sâu dưới da có thể đè lên xương bên dưới, gây biến dạng, mài mòn, làm tiêu vôi, dẫn tới loãng xương,… Đặc biệt, u có thể xâm lấn vào xương và gây u máu trong xương. U máu phẳng port-wine stain hay vết rượu vang U mạch máu phẳng là một bệnh bẩm sinh với tổn thương dị dạng ở các mao mạch của da. Trong đó, các mao mạch bị giãn ra và không có sự tăng sinh của các tế bào nội mô. Biểu hiện của u máu phẳng là xuất hiện những vết sẫm màu trên da, có màu hồng nhạt, đỏ nhạt hoặc đỏ thẫm, không dày hơn bề mặt da, co giãn mềm mại có tính chất giống như da thường, chỉ khác màu. U máu phẳng có kích thước đa dạng, từ nhỏ như đồng xu tới lớn lan hết cả nửa mặt. Đây là dạng u máu bẩm sinh, có khuynh hướng phát triển, lan rộng theo tuổi và chỉ ảnh hưởng tới thẩm mỹ, không gây rối loạn chức năng các cơ quan. Tuy nhiên, u mạch máu phẳng cũng có thể tiến triển vào chiều sâu, thâm nhiễm các lớp da hoặc vào tổ chức mỡ, cơ, niêm mạc,… làm biến dạng mặt và phát triển lớn, ảnh hưởng tới chức năng của các cơ quan. Đồng thời, bề mặt vết bớt có thể gồ, sùi hơn, trở thành các cục nhỏ, da phủ ở trên nhăn nhúm và biến thành u máu gồ u máu củ. U máu gồ u máu củ U máu gồ có thể do u máu phẳng tiến triển hoặc bẩm sinh. U gồ khỏi da từ vài mm đến 1cm hoặc hơn, có màu hồng đậm, đỏ tía, da phủ lên hơi nhăn, khi va chạm dễ chảy máu dẫn tới nhiễm khuẩn. Đôi khi u máu gồ hình thành một đám rộng ở mặt hoặc dọc cổ. Loại u máu này có thể phát triển và lan rộng theo tuổi hoặc tự ngừng phát triển, thu nhỏ và hết hẳn. U máu gồ tiến triển từ u máu phẳng thường gặp ở người trung niên hoặc cao tuổi. U biểu lộ dưới hình thái trên một u máu phẳng từ trước, nổi gồ thành cục, có màu đỏ thẫm và nhăn nheo. U máu gồ tiến triển tới một mức độ sẽ tự ngừng lại, không lan rộng thêm, chỉ tăng khối lượng tại chỗ, có thể che kín mắt, mũi, môi,… gây ảnh hưởng tới chức năng các cơ quan, tính thẩm mỹ cũng như tâm lý của bệnh nhân. Bên cạnh đó, u dễ bị nhiễm khuẩn và chảy máu, da dưới u có thể bị thâm nhiễm ít nhưng không lan tới lớp cơ ở dưới. Phình mạch rối Dạng u máu này thường hình thành từ u máu gồ tự phát hoặc dưới ảnh hưởng của sang chấn hay thay đổi nội tiết tố do mang thai. Đôi khi, phình mạch rối là một thể trung gian giữa u máu và tình trạng phồng động – tĩnh mạch. Phình mạch rối gồm những mao mạch giãn rộng, không đồng đều, gồ to, có nhịp đập và không bóp xẹp được. Hình thái lâm sàng của phình mạch rối là một u gồ, lớn như quả quýt, da trên khối u có màu hồng đậm, nhăn nheo, mỏng, đôi khi có tĩnh mạch nổi rõ, nhìn thấy rõ nhịp đập, dễ chảy máu và khó cầm máu. Phình mạch rối làm biến dạng mặt, có thể ảnh hưởng tới chức năng các cơ quan tùy vị trí chúng hình thành là ở gần mũi, môi hay tai. Ngoài ra, loại u máu này cũng có thể ảnh hưởng tới hoạt động của tim mạch. U máu niêm mạc miệng Có thể là u máu phẳng hoặc u gồ thể củ. U máu niêm mạc miệng thường gặp ở môi, má, lưỡi, sàn miệng, hàm ếch, vòm miệng mềm, có thể lan vào amidan tạo với lưỡi gà thành u gồ thể củ rất nguy hiểm. Niêm mạc phủ lên khối u có màu đỏ đậm hoặc tím đậm, gồ nhẹ hoặc nhiều, làm vướng, dễ gây chảy máu, ảnh hưởng tới chức năng ăn uống, giao tiếp. U máu niêm mạc miệng thường phát triển theo chiều rộng trong hốc miệng, có thể xâm nhiễm tổ chức dưới niêm mạc, cơ, tổ chức mỡ dưới da, lan sâu ra ngoài da. U máu trong xương hàm Là loại u máu nguy hiểm nhất, có thể dẫn đến tử vong. Thường u máu trong xương hàm là u niêm mạc miệng hoặc lợi xâm lấn, phá hủy dần xương hàm. Hiếm gặp hơn, u máu có thể phát triển từ trung tâm xương hàm, phá hủy dần lợi và răng,… Một số thể u máu đặc biệt khác U máu kết hợp Trong các thể bệnh trên, có nhiều loại u máu có thể phát triển, kết hợp với nhau như u máu phẳng xen kẽ u máu gồ, u máu niêm mạc xen kẽ với u máu sâu dưới da,… U máu rải rác Rendu và Osler Có tính chất di truyền, đặc trưng bởi những u máu rải rác trên da và niêm mạc, màu sẫm, có chấm đen, xanh thẫm, chảy máu hoặc giãn mạch. Loại u máu này khu trú ở phổi có thể gây rò động – tĩnh mạch. Ở mặt nó hay khu trú ở má, cổ, niêm mạc miệng, môi, lưỡi, sàn miệng, hàm ếch, niêm mạc mũi,… dễ gây chảy máu; Hội chứng Sturge-Weber-Krabbe Còn gọi là u máu lan toả thần kinh, là một bệnh bẩm sinh. Biểu hiện là một u máu phẳng ở một bên mặt, kèm theo u máu ở não cùng bên. Bệnh nhân có thể bị rối loạn thị giác, võng mạc sẫm màu, tăng nhãn áp và động kinh, nhức đầu, liệt nửa người,… Hội chứng Klippel-Trenaunay và Parkes Weber Thuộc loại u máu não – mặt, có phì đại ở nửa mặt và sọ hoặc teo nửa mặt và sọ, người bệnh bị rối loạn vận động, rối loạn tâm thần, tăng nhãn áp,… 3. Nguyên nhân gây u mạch máu Giả thuyết liên quan đến căn nguyên gây u máu bao gồm Từ phôi thai, do di tích của trung bì phôi thai. Giả thuyết u mạch máu do di tích của trung bì phôi thai Nhiễm virus gây u nhú trên người, tiếng Anh còn gọi là Human Papuloma virus HPV gây mất kiểm soát điều hòa tăng sinh tế bào nội mạch của mạch máu. Do nội tiết tối Người ta thấy nồng độ cao của 17-Beta Estradiol ở trẻ u máu. Heparine do các dưỡng bào tiết ra gây kích thích tế bào sợi và tế bào nội mạch tăng ở các trẻ u máu. 4. Triệu chứng của bệnh u mạch máu U máu có thể có mặt khi sinh, nhưng thường xuất hiện nhiều hơn trong vài tháng đầu đời. Biểu hiện bệnh u máu ở trẻ em bắt đầu như một dấu đỏ phẳng ở bất cứ đâu trên cơ thể, thường xuyên nhất là trên mặt, da đầu, ngực hoặc lưng. Thông thường một đứa trẻ chỉ có một dấu hiệu, một số trẻ có thể có nhiều hơn. Trong năm đầu tiên của trẻ, vết đỏ phát triển nhanh chóng thành một vết sưng trông giống như cao su xốp dính ra khỏi da. U máu sau đó bước vào giai đoạn nghỉ ngơi và cuối cùng, nó bắt đầu dần biến mất. Nhiều khối u máu biến mất khi 5 tuổi và hầu hết sẽ biến mất hoàn toàn khi trẻ tuổi 10. Da có thể bị đổi màu một chút hoặc nổi lên sau khi hemangioma biến mất. 5. Chẩn đoán u mạch máu như thế nào? Chẩn đoán xác định Chẩn đoán chủ yếu dựa vào sự tiến triển của 3 giai đoạn qua theo dõi, thăm khám lâm sàng. Điều quan trọng nhất là cần phải phân biệt thương tổn là u máu hay dị dạng mạch máu? U máu ở giai đoạn nào? Tăng sinh hay ổn định hay thoái triển? Một số phương pháp chẩn đoán xác định gồm Siêu âm có thể giúp chẩn đoán trong giai đoạn tăng sinh và các u máu lớn. Chụp cộng hưởng từ hay chụp cắt lớp có thể giúp ích đối với các trường hợp u máu có biến chứng đe dọa đến tính mạng trẻ. Chụp mạch nên được chỉ định khi cần nút mạch. Sinh thiết Thường không cần thiết vì hỏi tiền sử bệnh nhân và các dấu hiệu có trên lâm sàng sẽ biết u máu hay dị dạng mạch. Có nhiều phương pháp chẩn đoán u mạch máu Chẩn đoán phân biệt U máu nông với giãn mao mạch hay giai đoạn đầu của u máu nông, dị dạng mao mạch Cần phải theo dõi trong những tháng đầu sau sinh để phân biệt chẩn đoán. U máu sâu với những u máu lành tính bẩm sinh Loại u máu này đã đạt tới sự tăng sinh cực điểm của tế bào nội mạch ngay từ khi mới sinh. Loại u máu này chia lần 2 loại u máu bẩm sinh thoái triển nhanh và u máu bẩm sinh không thoái triển. Các loại u máu này thường không cần can thiệp. U máu sâu lành tính mắc phải với U nguyên bào mạch. U mạch nội mô dạng Kaposi. Dị dạng tĩnh mạch. Dị dạng bạch mạch. Dị dạng động – tĩnh mạch. Loạn sản phôi mạch máu. 6. U mạch máu có nguy hiểm không? Điều trị như thế nào? Tác động tiêu cực của bệnh u máu đến con người còn đang được nghiên cứu kỹ lưỡng. Mặc dù không đe dọa đến tính mạng, nhưng u máu cũng gây nên những vấn đề nhất định đối với sức khỏe. Đôi khi, một hemangioma có thể bị phá vỡ và phát triển một vết loét. Điều này có thể dẫn đến đau, chảy máu, sẹo hoặc nhiễm trùng. Tùy thuộc vào vị trí của hemangioma, nó có thể cản trở tầm nhìn, hơi thở, thính giác hoặc nguy hiểm đến tính mạng – nhưng điều này rất hiếm khi xảy ra. U máu có thể tăng sinh và phát triển không ngừng. Ở trẻ nhỏ, nếu tốc độ tăng sinh của khối u nhanh hơn so với sự phát triển của trẻ sơ sinh, thì các vấn đề về chức năng và thẩm mỹ như loét, tắc mũi, vấn đề về thị lực và tắc nghẽn đường thở rõ ràng sẽ xuất hiện. Với người trưởng thành, một số vị trí đặc biệt như vùng mí mắt, hốc mắt, mang tai gây biến chứng chèn ép thần kinh thị giác, mặt bị biến dạng. Nguy hiểm hơn có thể gây chảy máu ồ ạt nếu có sang chấn vùng u. Mặc dù u máu là lành tính, chúng cũng gây nên vấn đề mất thẩm mỹ rất nghiêm trọng, khiến người bệnh khó hòa đồng với xã hội, thậm chí là tự kỷ hay trầm cảm. Điều trị u mạch máu U mạch máu có xu hướng tự biến mất sau một thời gian, vì vậy bác sĩ thường không chỉ định điều trị bởi chính điều trị lại có thể gây ra một số tác dụng phụ lên da. Tuy nhiên nếu u mạch máu bắt đầu ảnh hưởng lên khả năng nhìn hoặc khả năng hoạt động bình thường của bạn thì có lẽ đã đến lúc cần điều trị Thuốc chẹn thụ thể beta propranolol là thuốc đầu tay ở dạng gel có thể thoa lên vùng da bệnh. Tuy nhiên, dạng thuốc này có thể làm tăng nguy cơ bị tăng huyết áp, tăng đường huyết và khò khè. Corticosteroid là một điều trị thay thế cho thuốc chẹn thụ thể beta. Loại thuốc này có thể tiêm, uống hoặc bôi da. Điều trị bằng laser có thể được sử dụng để loại bỏ u. Xem thêm Viêm mao mạch dị ứng là gì? Có nguy hiểm không?
u máu ở môi dưới